co-khong-sai-canh-ma-ngoi-o-dayco-khong-sai-canh-ma-ngoi-o-day.tumblr.com

DRY

Don't Repeat Yourself.

Tags ()

    Có những ngày buồn như ngói vỡ
    Về lại dòng sông
    Dòng sông đã chảy
    Em chở thanh xuân trên chuyến tàu mười bảy
    Nghiến lên thơ tiếng rít ghê hồn

    Mẹ quảy tuổi già ra chợ Hôm
    Nắng cứa trên vai
    Gió cong đòn gánh
    Đôi khi tôi buồn như bánh đa vành vạnh
    Bẻ chỗ nào cũng thấy phân vân

    Về lại dòng sông
    Nhìn nắng tần ngần
    Nghe gió phù vân
    Xòe tay trắng muốt.

    Về lại dòng sông - Hoa Ngõ Hạnh

    “Từ năm nay, mỗi ngày ăn của các em được tăng thêm 2.000 đồng”, thầy Thành, Hiệu phó trường Chiến Phố phấn khởi.

    Đó là phần trợ cấp gia tăng, nhờ lương cơ sở tăng thêm 90.000 đồng từ tháng Bảy. Muốn học sinh được ăn ngon hơn, các thầy chỉ còn trông chờ vào mức tăng của lương cơ sở.

    Nhưng sau kỳ thi học sinh giỏi vào tháng Một kết thúc, Hiệp sẽ không còn được ăn cơm bán trú nữa. Em sẽ lại đi về mỗi ngày 4 tiếng đường rừng. Bữa sáng của Hiệp là một bát cơm trắng. Bữa trưa cũng là số cơm trắng vét nồi sau bữa sáng của cả nhà.

    Hiệp muốn ở bán trú như các bạn, để được ăn những suất cơm ngon thầy cô nấu. Ba tuần ăn cơm bán trú, Hiệp đã tăng được gần 3 kg. Buổi tối ngủ cùng các bạn học trong chăn ấm, cậu bé không còn sợ trời mưa hay lo giá rét nữa. “Ở bán trú thật là sung sướng”, Hiệp nói.

    Ngôi nhà bán trú do các thầy sắp xếp tạm từ lớp học, bây giờ đã rất cũ, gió lạnh lùa qua khe cửa, nhưng vẫn là nơi đầm ấm nhất mà nhiều em học sinh có được.

    Nga mơ ước giá như ngày nào cũng được ăn cơm nóng, chứ không phải là những hạt nguội ngắt, rời rạc đựng trong núi nylon. Nhưng nếu ăn thêm một ngày, cũng có nghĩa là Kết sẽ còn đang nghỉ học. Kết là bạn tốt của Nga.

    “Em cũng biết nghĩ như thế là không tốt, nên em mong Kết mau đi học”. Tự trọng của một đứa trẻ đang tuổi lớn không cho phép nó ước mong ăn thêm một bữa cơm “chùa” nào của bạn.

    https://vnexpress.net/longform/bua-com-trong-mo-gia-9-500-dong-cua-hoc-tro-mien-nui-3853837.html?fbclid=IwAR3uGz5Z8cX-QsYY8OrAq7eJtNfe8RnZXKo68BC4Cj_wcwsMUIOqgrW95pk

    – Mẹ ơi, con tuổi gì?
    – Tuổi con là tuổi ngựa
    Ngựa không yên một chỗ
    Tuổi con là tuổi đi…

    – Mẹ ơi con sẽ phi
    Qua bao nhiêu ngọn gió
    Gió xanh miền trung du
    Gió hồng vùng đất đỏ
    Gió đen hút đại ngàn
    Mấp mô triền núi đá…
    Con mang về cho mẹ
    Ngọn gió của trăm miền
    Khi mở ra mẹ xem
    Có hương thơm, màu sắc

    Ngựa con sẽ đi khắp
    Trên những cánh đồng hoa
    Loá màu trắng hoa mơ
    Trang giấy nguyên chưa viết
    Con làm sao ôm hết
    Mùi hoa huệ ngọt ngào
    Gió và nắng xôn xao
    Khắp đồng hoa cúc dại
    Mẹ ơi, mẹ ít nói
    Giống như là hoa ngâu
    Ngựa con phi mau mau
    Qua bạt ngàn hoa sở
    Bỗng nhiên con nhớ mẹ
    Khi qua đồi hoa sim
    Và quay lại con nhìn
    Chỉ một màu lau trắng

    Ngựa con qua làng xóm
    Như mẹ kể ngày xưa
    Con băng qua gốc đa
    Mùa sen hồng giếng ngọc
    Hoàng hôn vàng như thóc
    Con lao về ban mai
    Mới đấy đã qua rồi
    Con đường lên Quán Dốc
    Chỉ còn nghe tiếng hát
    Phía chân trời mở ra
    Tuổi nhỏ thoắt lùi xa
    Con đã không còn bé…

    Tuổi con là tuổi ngựa
    Nhưng mẹ ơi đừng buồn
    Dẫu cách núi cách rừng
    Dẫu cách sông cách bể
    Con tìm về với mẹ
    Ngựa con vẫn nhớ đường

    Tuổi ngựa - Xuân Quỳnh

    Rồi em bỏ ta đi
    Trong buổi sáng Sài gòn đầy lá
    Hay buổi chiều nắng ăn lốm đốm da em
    Như những con đường một chiều
    Khiến những người tìm nhau không thể vòng xe trở lại

    Rồi em bỏ ta đi
    Để ta lại như con sâu kèn
    (Con sâu kèn ngủ vùi trong bao kín tối tăm
    Suốt một đời không thể tự mình rúc lên những hồi còi thê thiết)
    Như con đom đóm
    Lập lòe cơn mê điên
    Tưởng cùng em hoan lạc
    Tắt ngấm chút lửa tàn
    Đứng lên nghìn tuyệt vọng
    Em buồn bã như đêm
    Thoảng hồi chuông tuyệt vọng

    Rồi em bỏ ta đi
    Chẳng cách chi khác được
    Lệ có lỡ ứa trào
    Cũng khăn mình chậm lấy
    Đớn đau ở hôm nay
    Đời sau còn nhắc mãi

    Khi em bỏ ta đi
    Có nghe lòng trống trải?
    Khi em bỏ ta đi
    Có nghe rừng gió mãi
    Ngày đã thổi sương theo
    Tình hoang mang rất vội
    Qua những miền hư hao
    Ta ngồi nghe gió nổi
    Em môi đỏ ráng chiều
    Có nghe lòng sắp tối
    Đêm gần kề bên ta
    Bảo ta: ngươi thấy tội

    Tưởng tới người vắng mặt - Du Tử Lê

    khanhtay:

    Bàn về câu chuyện bia rượu có tỷ thử để nhắc đến. Thức tế đã có hàng tỷ bài báo hay các câu chuyện về bia rượu và tác hại của nó trên Internet.

    Vậy tại sao chúng ta vẫn uống bia rượu?

    Bài viết này không nhằm mục địch trả lời câu hỏi đó mà đó là sự thực hiển nhiên mà ai cũng có câu trả lời của mình. Tôi chỉ muốn nói với tư cách là một người có sở thích về bia rượu muốn bàn luận một khái niệm ít được nhắc đến: Văn hóa uống.

    Bia rượu là các chất kích thích. Nó kích tinh cảm xúc của con người, khiến người uống bộc lộ bản chất thật của mình mà bình thường họ không dám làm. Mỗi khi ai đó bảo lúc đó là rượu nói chứ không phải tôi nói thì đó là một sự ngụy biện. Vì thế, những vụ xô xát, mâu thuận xảy ra, nguyên nhân chính là những hiềm khích từ trước. Cùng uống một loại bia rượu mà có người khóc, có người cười chính là do cảm xúc bị kìm nén bấy lâu nay mới bộc lộ ra.

    Đó không phải là chuyện kinh khủng nếu chưa vi phạm pháp luật. Đối với công việc, bia rượu d

    ĐANG VIẾT DỞ THÌ HẾT GIỜ LÀM, TUẦN SAU VIẾT TIẾP

    Lại uống bia trong giờ làm rồi viết à :D

    Bài thơ “Lá diêu bông” tôi viết về một câu chuyện có thật, câu chuyện về mối tình đầu tiên trong đời tôi. Vào một đêm năm 1959, khoảng 3 giờ sáng, tôi chợt tỉnh giấc rồi thao thức không ngủ lại được. Căn nhà ở phố Lý Quốc Sư nằm sâu phía trong, lại thêm thuở ấy ban đêm không có tiếng xe tiếng còi ầm ĩ như bây giờ, nên đêm khuya càng thêm thanh vắng. Chợt tôi thấy lóe trong đầu văng vẳng mấy câu thơ do một người đàn bà đọc bằng giọng lanh lảnh: Váy Ðình Bảng buông chùng cửa võng…
    Tôi lấy ngay cây bút chì và tập giấy luôn để sẵn trên đầu giường ghi lại. Rồi từng mẩu ký ức cứ hiện lên trong đầu tôi, hình ảnh người đàn bà, người Chị năm xưa cứ rõ nét dần để đi trọn hết bài thơ.
    Tôi nhớ đâu hồi lên 4 tuổi, cha mẹ tôi từ làng quê chuyển lên sống ở một phố nhỏ dọc đường quốc lộ. Gọi là phố nhưng thực ra chỉ có khoảng 14, 15 ngôi nhà dựng dọc hai bên đường, cách thị xã Bắc Giang chừng 6 cây số. Nhà tôi quay về hướng tây, phía trước là đường cái, sau nhà có một mảnh vườn nhỏ có hàng rào dâm bụt, tiếp đấy là đường xe lửa. Người trong phố làm các nghề thợ may, cắt tóc. Cha tôi có tủ thuốc bắc và gánh hàng xén của mẹ.

    Lên 5, cha tôi đã cho tôi đến trường, cách nhà chừng 2 cây số. Nhưng đi học xa, dọc đường hay bị trẻ chăn trâu bắt nạt, vì vậy năm sau ông gửi tôi lên tỉnh học. Lên 6 tôi đã đọc thông viết thạo, lại thêm võ vẽ chữ Pháp, nên được nhận vào trường công ở thị xã Bắc Giang. Tôi được gửi ở nhà thầy ký ga Núi Tiết. Mỗi chiều thứ bảy, tôi đi thẳng từ trường ra sân ga lấy vé, đi tàu mất 10 phút là về đến ga gần nhà. Thuở ấy đi tàu dễ dàng nên trẻ con đi một mình cũng không sợ. Cuộc đời của một thằng bé cứ lặng lẽ trôi nếu không có một biến đổi về tình cảm mà dấu ấn của nó sẽ để lại trong lòng tôi nhiều cảm nghĩ đến tận sau này.

    Năm đó tôi lên 10, đã học đến lớp ba (cour élémentaire). Một buổi chiều thứ bảy, tôi về nhà như thường lệ. Ðang dừng lại ngoài sân nhìn vào trong nhà, tôi thấy có một người đàn bà đang cúi xuống bồ hàng xén của mẹ tôi chọn mua một cái gì đó. Chị mặc chiếc áo phin trắng, ngoài có chiếc gilê màu thẫm. Khi đó nắng xiên khoai dọi vào nhà, lúc chị ngửng đầu lên thì cả khuôn mặt chị được ráng vàng chiếu sáng, tôi thấy bừng lên một khuôn mặt khiến tôi choáng váng cả người. Không hiểu cái máu đa tình có từ bao giờ, mà chỉ mới lên chín lên mười, tôi đã bị khuôn mặt đó làm cho tôi ngơ ngẩn suốt buổi chiều. Mua hàng xong chị ra về, khi đi ngang qua tôi trông theo, thì biết chị là người hàng xóm, ở ngôi nhà ngay bên kia đường hơi xế cửa nhà tôi. Hỏi mẹ thì biết gia đình nhà đó mới dọn về, có ba mẹ con, chị là con gái lớn, còn một cậu em trai nhỏ. Thảo nào tuần trước tôi về chưa gặp. Tên chị là Vinh. Cả ngày chủ nhật hôm sau, tôi cứ ngong ngóng nhìn sang nhà đàng trước, chờ xem chị có xuất hiện không. Ðến sáng thứ hai tôi lại quay trở về thị xã.

    Về đến Bắc Giang, tôi làm ngay một bài thơ gửi chị, theo thể lục bát. Hồi đó tuy chưa học niêm luật, nhưng tôi đã biết làm thơ lục bát. Nguyên tôi trọ học ở nhà ông ký ga, buổi tối nhà chủ thường tập trung các bà ,các chị trong xóm đến làm hàng xáo. Buổi tối khoảng 9 giờ học xong, trước khi đi ngủ, các bà các chị thường gọi tôi xuống nhà dưới đọc truyện cho mọi người nghe, trong khi họ đang giần sàng thóc gạo. Mỗi tối tôi đọc chừng một tiếng rồi đi ngủ, các bà thường thù lao, khi thì bát chè, khi thì phong kẹo. Nhưng cũng nhờ vậy mà tôi được đọc hết mọi truyện thơ dân gian, từ Phạm Công Cúc Hoa, đến Nhị độ mai, rồi Hoàng Trừu… Tôi có giọng tốt, lại biết ngâm nga, nên được các bà tín nhiệm, và cũng vì vậy mà thơ lục bát cứ ngấm vào người tôi, không cần học cũng biết cách gieo vần.

    Tôi chép bài thơ vào tờ giấy học sinh. Trang đầu chép bốn câu có vẽ hoa bướm, trang sau chép nốt bài. Tôi không còn nhớ bài thơ tình đầu tiên đó viết những gì. Chỉ nhớ là tôi nắn nót viết lên đầu trang giấy dòng chữ “Em gửi chị Vinh của em”. Tôi bỏ thơ vào phong bì, chờ hôm về nhà, tìm gặp chị trao tận tay nói: “Em gửi chị cái này.” Chị không mở ra xem, chỉ mỉm cười hơi bí mật rồi bỏ vào túi, không nói gì. Sau đó chị không nhắc đến bài thơ đó, và tôi cũng không hỏi lại.

    Từ đấy tôi không chỉ về nhà chiều thứ bảy, mà ngày thứ năm được nghỉ, tôi về cả chiều thứ tư. Mục đích là để được gặp chị. Ngày nghỉ, hễ thấy chị đi đâu là tôi đi theo đấy, đôi khi chị thấy tôi đi theo thì đưa tay dắt. Mỗi khi chị ôm chiếu ra sông giặt, tôi lại lẽo đẽo đi theo, ngồi trên bờ nhìn chị cúi khom mình giặt chiếu ven sông. Tình yêu tôi dành cho chị chỉ có thế, nhưng nó cứ đeo đẳng tôi hết năm này sang năm khác. Tôi càng lớn thì tình yêu đó càng thêm đằm thắm, nhưng tôi chưa biết làm thế nào để bày tỏ mối tình của mình.

    Lên 12 tuổi, những đêm sáng trăng, chị Vinh thường tập hợp trẻ em từ 10 đến 15 tuổi cả trai lẫn gái, tụ tập trên bãi cỏ sau ga để tập hát. Chị Vinh có giọng ca tốt, thường cùng một vài chị trong xóm hát Quan họ. Chúng tôi được chị dạy hát đủ loại dân ca như Trống quân, Cò lả… Mỗi khi đứng hát, tôi thường chen vào đứng cạnh chị, có khi tôi đứng trước chị, đầu tôi vừa đúng ngang tầm ngực của chị. Có khi chị ôm lấy vai tôi, tôi hơi ngả đầu vào người chị, chị khe khẽ vuốt cổ xoa lên hai vai tôi. Tôi có một cảm giác là lạ, đó là những giờ phút say sưa nhất của tôi. Những đêm tháng chín tháng mười, trời hơi se lạnh, đứng dưới gốc cây trên bãi cỏ, tôi được hơi ấm từ người chị truyền sang. Hình như chị cũng cảm thấy sự ham muốn của tôi. Mặc dù lúc đó tôi còn bé, nhưng là một cậu bé khôi ngô tuấn tú, lại có đi học, khác hẳn với những đứa trẻ khác trong xóm. Ðược chị ôm trong lòng, nhưng tôi chưa bao giờ dám chủ động ôm người chị.

    Lần ấy, trong dịp lễ Noel, tôi được nghỉ mấy ngày. Ðang đứng ở sân, tôi chợt thấy chị Vinh bỏ cửa hàng đi ra cánh đồng. Tôi vội đi theo. Thấy chị rẽ xuống ruộng, bới các bụi cây ven bờ ruộng. Tôi cũng nhảy xuống theo, không biết chị có nhìn thấy tôi hay không. Chợt chị ngẩng lên hỏi: “Sao mày cứ theo tao lẵng nhẵng như thế này nhỉ?” Tôi không trả lời, nhưng thấy sung sướng vì đã được chị chú ý tới. Rồi chị tiếp tục cúi xuống tìm, cuối cùng bước lên trên một cái gò nhỏ có nhiều bụi cây dại. Tôi hỏi chị tìm cái gì. Chị dừng lại thẳng người lên, nhìn vào mắt tôi nói: “Chị tìm cái lá…” (tôi không nhớ là chị gọi cái lá gì nữa). Rồi chị tiếp lời: “Ðứa nào tìm được ta gọi làm chồng…” Nghe câu nói đó, tôi cảm thấy sung sướng vô cùng, người nóng ran lên. Tôi nghĩ đó là một cái lá gì kỳ diệu lắm, có thể dùng làm thuốc, hoặc dùng đắp lên mặt như các cô gái hồi đó thường làm. Tôi cảm thấy giữa chị và tôi có một tình yêu mãnh liệt. Mà tình yêu đó giống như tình yêu tôi dành cho mẹ. Tôi không có chị gái, vì vậy đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy một tình yêu đối với người chị.

    Hai mươi lăm năm sau, câu chuyện đi tìm lá của chị Vinh hiện lại trong bài thơ mà tôi đặt cho cái tên là “Lá diêu bông.”

    Chị thẩn thơ đi tìm
    Ðồng chiều
    cuống rạ
    Chị bảo
    - Ðứa nào tìm được lá Diêu Bông
    Từ nay ta gọi là chồng…

    Một tuần sau, khi tôi từ trên tỉnh trở về, nhìn sang trước nhà thấy cửa đóng im ỉm. Tôi vội hỏi mẹ nhà đó đi đâu rồi. Mẹ tôi trả lời, trong giọng nói như có nước mắt: “Nó đi lấy chồng rồi con ạ.” Tôi òa lên khóc, gục đầu vào lòng mẹ. Không biết mẹ tôi có biết mối tình của tôi đối với chị Vinh không, mà sao mẹ lại nói bằng giọng nghẹn ngào? Khi đó cha tôi vừa về, tôi vội lau nước mắt, không dám để cho cha nhìn thấy. Về sau mẹ kể cho tôi biết có một ông Quản khố xanh đi qua đây, trông thấy chị đã mê vì nhan sắc. Chị bằng lòng lấy lẽ, ông Quản đưa cả mấy mẹ con về Phủ Lý quê ông. Từ đấy tôi không gặp chị nữa.

    Nhưng câu chuyện chưa kết thúc ở đấy. Năm đó tôi đã 17 tuổi, vừa thi đỗ tú tài xong, đang sống ở Hà Nội. Nhân ngày nghỉ, có một người bạn ở Sen Hồ có người anh cưới vợ, đã rủ tôi về nhà chơi, luôn tiện ăn cỗ cưới. Cỗ bàn xong, chiều hôm đó tôi dạo ra phố Sen Hồ chờ tàu về Bắc Giang. Lúc đó tôi đã viết báo nên cũng có tiền. Tôi mặc bộ complet, thắt ca vát, đầu đội mũ phớt, ra dáng người dân chốn thị thành. Ðang thả bộ đi dọc phố, chợt nghe có tiếng gọi: “Cậu Việt ơi!” Nghe giọng quen quen, tôi nhìn sang bên kia đường, thì thấy chị Vinh đang ngồi bên một cái tủ bày bánh kẹo, cạnh một cái chõng bán nước chè. Tôi bước sang đường, chị Vinh mừng rỡ chạy ra, đặt hai tay lên vai tôi rồi kéo vào nhà nói chuyện. Bà mẹ đã già nhưng còn nhớ tôi, hỏi thăm cha mẹ tôi. Một lát sau bà bảo bà có việc phải đi vào làng, tối có thể không về, cậu cứ ở lại xơi cơm. Cậu em đã lớn cũng theo mẹ đi. Hình như cả hai đều biết giữa tôi và chị Vinh còn có nhiều điều muốn nói với nhau. Chị kéo tôi ngồi xuống chõng, chị ngồi cạnh ôm ngang lưng tôi. Tôi nhẹ nhàng khẽ gỡ tay chị ra. Chị kể cho tôi biết tình cảnh của chị sau khi lấy chồng. Chị lấy ông Quản đã có một mặt con. Mấy mẹ con chị về Phủ Lý cũng vẫn tiếp tục buôn bán làm ăn. Nhưng dần dần ông Quản ruồng bỏ chị, đi theo người khác. Cuối cùng ông đã đuổi mấy mẹ con đi. Gia đình chị không muốn trở về chốn cũ, nên đưa nhau về Sen Hồ.

    Tôi ái ngại nhìn chị. Lúc này trong tôi không còn cái tình yêu say mê của thời thơ ấu. Tôi chỉ cảm thấy thương cho một con người tiều tụy, nhan sắc đã tàn phai. Bảy tám năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh của chị năm tôi lên 10 vẫn còn đọng mãi trong tôi.

    Ngày cưới Chị
    Em tìm thấy lá
    Chị cười xe chỉ ấm trôn kim.

    Và cảm giác khi đánh mất chị như vẫn còn đi suốt đời thơ tôi:

    Từ thuở ấy
    Em cầm chiếc lá
    đi đầu non cuối bể
    Gió quê vi vút gọi
    Diêu Bông hời!…
    … ới diêu bông!…”
    Hoàng Cầm
    (17-9-2004)

    Váy Ðình Bảng buông chùng cửa võng
    Chị thẩn thơ đi tìm
    Ðồng chiều
    Cuống ra.
    Chị bảo
    — Ðứa nào tìm được lá Diêu Bông
    Từ nay ta gọi là chồng.
    Hai ngày sau Em tìm thấy lá
    Chị chau mày:
    — Ðâu phải lá Diêu Bông
    Mùa đông sau Em tìm thấy lá
    Chị lắc đầu
    Trông nắng vãn bên sông
    Ngày cưới chị
    Em tìm thấy lá
    Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
    Chị ba con
    Em tìm thấy lá
    Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn
    Từ thưở ấy
    Em cầm chiếc lá
    Ði đầu non, cuối bể
    Gió quê vi vút gọi
    Diêu Bông hờị.!
    Ới Diêu Bông .

    Lá Diêu Bông - Hoàng Cầm

        Hà Nội những ngày cuối năm, rét đến nỗi người chỉ còn là hòa sắc trung tính. Mình nhớ đến cô chị người Tày mình gặp trên Lạng Sơn.

       Chuyến phượt rất lâu rất lâu rất lâu hồi đó mưa phùn cả chặng. Mình với thằng bạn mặc áo mưa, chân cột ni lông, trèo từ trạm phát sóng viba trên Bắc Sơn xuống, cả người lấm lem bùn đất, còn tại sao giữa trời mưa rét, sương mù dày đặc 2 thằng lại đi trèo núi thì chịu, giờ chẳng thể nhớ được nữa.

      Bụng 2 đứa đói meo, thi nhau kêu òng ọc, thằng bạn giọng yếu yếu: “mày ơi, giá mà ở đây có cơm, tao thèm quá, mấy bữa nay chẳng có hột nào rồi..”,  gì chứ chẳng phải mỗi nó, mình cũng muốn ăn cơm rã cả ruột, đi mấy trăm cây số toàn ăn bún miến thì bụng nào chịu thấu. Vậy là rẽ luôn vào chợ Kì Lừa. Ngặt nỗi ở đây chẳng ai bán cơm, đi đâu cũng chỉ có bún với phở. Quán chị nằm cuối dãy chợ, nghe tiếng 2 đứa đến đâu cũng hỏi cơm, chị với tay ra hiệu rồi không hiểu sao lại rụt tay lại.

    - Sao vừa nãy em thấy chị ra hiệu ? - mình hỏi khi đến quán

    - Quán chị cũng không bán cơm, nhưng có cắm 1 nồi dành ăn trưa, định gọi nhưng sợ các em chê… - chị vừa nói vừa gãi đầu.

    2 đứa chỉ chờ có thế, mừng phát khóc, tranh nhau phân bua. Bữa trưa hôm đó có mình, thằng bạn và chị mà ấm sực cả quán, quên cả cơn mưa và cái rét 4-5 độ ngoài trời. Lúc ấy, khi cái nồi cơm được mở, hơi bay mờ cả kính, mình mới hiểu hết mấy câu thơ Huệ Triệu viết trong bài tháng ba: tôi và kí ức rưng thơm - chan sông vào cả chén cơm xứ người… Giờ vào hoàn cảnh ấy chắc mình khóc ngon lành.

    Cuộc nói chuyện trong bữa được mở đầu bằng 1 câu nói dối, phần vì ngại phần vì hợp lý hóa dáng vẻ lếch thếch 2 đứa, mình bảo chúng em mới ra trường đi thực tập thực tế, đo đạc địa chất vùng này để phục vụ công tác khí tượng thủy văn, chả hiểu sao chị vẫn tin, còn lo lắng “đi cực như này người ta có trả tiền cho bọn em không?” - 2 đứa chả biết nói sao, đành lắc đầu cười trừ. 

    Chia tay, chị quyết không lấy 1 xu, bảo muốn làm việc tốt. Nhưng nào 2 thằng chịu, ăn như hạm hết cả cơm giờ cứ bỏ đi sao được, dùng dằng hồi lâu chị đành tặc lưỡi nhận 12 nghìn mỗi đứa.

    Ngày trước đọc a brief history of time, Stephen Hawking dành hẳn 1 chương nói về thời gian, rằng có ít nhất 3 mũi tên khác nhau của thời gian. Thứ nhất là mũi tên nhiệt động học, chỉ hướng của thời gian theo đó vô trật tự hay entropy tăng lên. Nói cách khác, đấy là 1 dạng của định luật Murphy: mọi vật luôn tiến triển theo chiều hướng xấu đi. Tiếp đến là mũi tên tâm lý học, là hướng theo đó chúng ta cảm nhận được thời gian đang chảy, vì thế mà ta chỉ có thể nhớ quá khứ mà không có bất cứ lưu niệm nào của tương lai. Cuối cùng là mũi tên vũ trụ học. Cả 3 mũi tên này luôn là vector có hướng và chỉ cùng một chiều. Thế nên khi chị chỉ lấy 12 nghìn mỗi đứa, khi mà mọi thứ cứ tốt dần lên như thế mình đã nghĩ Stephen Hawking sai, hoặc chăng cả 3 khi ấy đang trôi ngược dòng chảy.

    Chẳng biết Stephen Hawking trong tình huống này sẽ giải thích thế nào.

    Nhưng chắc rằng từ giờ đến nhiều năm sau 2 đứa chẳng còn có thể quay lại đó lần nào nữa.